Thực trạng ngành thép Việt Nam: Tổng quan và đánh giá

Đề tài cơ sở

CN. Nguyễn Thị Vân Hà

Trung tâm Phân tích và Dự báo

2016 - 2016

Giới thiệu nội dung:

Trải qua gần 60 năm hình thành và phát triển kể từ năm 1960, ngành thép Việt Nam từ chỗ dựa chủ yếu vào nguồn thép viện trợ của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa (trước những năm 1990) đã vươn lên trở thành quốc gia đứng đầu về sản xuất thép thô và xuất khẩu thép lớn nhất khu vực Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 2014. Chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng (thời kỳ sau chiến tranh), chính sách “Đổi mới” của Nhà nước năm 1986 và chính sách phát triển ngành thép ở các năm tiếp theo đã có những tác động tích cực đến ngành thép Việt Nam. Sản lượng thép tăng nhanh qua các năm, ngày càng đa dạng về chủng loại sản phẩm và có sự tham gia sản xuất của tất cả các thành phần kinh tế.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy sản lượng của ngành thép vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường trong nước, xuất khẩu những sản phẩm có giá trị không cao (như thép xây dựng, tôn mạ, v.v…), trong khi phải nhập khẩu những sản phẩm thép chất lượng cao mà trong nước chưa sản xuất được hay năng lực còn hạn chế (như thép dẹt dùng trong công nghiệp chế tạo). Giá thành cao (cao hơn thép nhập khẩu từ Trung Quốc đến 10% - Hiệp hội thép Việt Nam), sử dụng công nghệ lạc hậu và trung bình vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn (gần 90%), các nhà máy chỉ duy trì khoảng 60% công suất (Hiệp hội thép Việt Nam), v.v… là những bất lợi của ngành thép Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Một số đặc điểm của ngành sản xuất thép và khung phân tích

Chương 2: Thực trạng và chính sách phát triển ngành sản xuất thép Việt Nam

Chương 3: Đánh giá tác động của các chính sách đến thực trạng phát triển ngành sản xuất thép Việt Nam và một số hàm ý chính sách