Các yếu tố tác động tới việc tham gia thị trường lao động và lựa chọn nghề của lao động trẻ ở Việt Nam

Đề tài cơ sở

ThS. Phạm Minh Thái

Trung tâm Phân tích và Dự báo

2016 - 2016

Giới thiệu nội dung:

      Việt Nam sau gần 30 năm Đổi mới, mở cửa hội nhập và phát triển, tiềm lực kinh tế và vị thế kinh tế quốc gia đã được nâng cao đáng kể trong khu vực và trên thế giới. Thành tựu giảm nghèo của Việt Nam được thế giới ca ngợi với tỷ lệ nghèo giảm nhanh chóng từ 58% vào năm 1993 xuống còn 9,6% vào năm 2012, nhờ đó khoảng 30 triệu người Việt Nam đã thoát khỏi tình trạng nghèo. Tổng sản phẩm quốc nội theo đầu người đã tăng khoảng 20 lần, từ mức chưa tới 100 đô-la vào năm 1990 lên khoảng 1.960 đô-la vào năm 2013. Kết quả tăng trưởng ấn tượng này đã giúp Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất châu Á trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp.

      Một điểm nổi bật trong thị trường lao động Việt Nam đó là tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên cao hơn so với trung bình của thị trường lao động. Rất nhiều nghiên cứu đã phát hiện và đề cập tới vấn đề này (Viện KHLĐ và XH (2011), Oudin và cộng sự (2013), Nguyễn Thắng và Phạm Minh Thái (2012, 2013, 2014). Đồng thời, tỉ lệ thất nghiệp của nam thanh niên cao hơn nữ thanh niên (Đặng Nguyên Anh, 2007). Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên thành thị luôn cao hơn hẳn tỷ lệ ở khu vực nông thôn (ILO, 2003). Đặc biệt hơn nữa, vấn đề sinh viên tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học ra trường không có việc làm đã trở thành một đề tài được tranh luận sôi nổi trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian qua. Khi phân tích tỷ lệ thất nghiệp theo trình độ học vấn có thể thấy tỷ lệ thất nghiệp cao nhất lại rơi vào nhóm lao động tốt nghiệp cao đẳng nghề và cao đẳng chuyên nghiệp. Hơn nữa, tỷ lệ tham gia thị trường lao động của thanh thiếu niên trong nhóm tuổi từ 15-24 là rất cao và đang có xu hướng tăng lên, điều đó đồng nghĩa với việc học sinh, sinh viên bỏ học để sớm tham gia vào thị trường lao động tại Việt Nam có xu hướng tăng lên. Đây sẽ là một trong những thách thức lớn nhất mà Việt Nam phải đối mặt trong chiến lược phát triển kinh tế dựa trên lực lượng lao động có chất lượng và năng suất lao động cao trong tương lai.

            Đối với vị thế việc làm, loại hình việc làm chủ yếu của lao động trẻ Việt Nam là việc làm không chính thức. Báo cáo sơ bộ của cuộc điều tra quốc gia “chuyển tiếp từ trường học tới việc làm” do ILO phối hợp với Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2012 cho thấy 8 trên 10 thanh niên trên thị trường lao động làm những công việc không chính thức và một nửa trong số họ có việc làm không thường xuyên (hợp đồng tạm thời hoặc tự làm). Điều này phản ánh mức độ phát triển thấp của thị trường lao động Việt Nam đồng thời ngụ ý khó khăn của lao động trẻ gặp phải khi gia nhập thị trường lao động. Hơn thế nữa, báo cáo cũng cho thấy thanh niên Việt Nam mất 6 năm sau khi ra trường để tìm được một công việc ổn định hoặc làm họ hài lòng (ILO-GSO, 2013). 30% thanh niên (15-20 tuổi) có trình độ cao hơn yêu cầu của công việc khiến thu nhập của họ thấp hơn mức đáng lẽ họ có thể được hưởng và không thể tận dụng toàn bộ tiềm năng năng suất lao động của họ.

Đề tài gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu 

Chương 2: Bối cảnh kinh tế và một số chính sách lao động việc làm trong giai đoạn 2010-2014

Chương 3: Đặc điểm việc làm của lao động trẻ Việt Nam

Chương 4: Các nhân tố tác động tới việc tham gia thị trường lao động và lựa chọn việc làm của lao động trẻ ở Việt Nam.

Chương 5: Kết luận